Phân biệt các loại thuốc bảo vệ thực vật thường gặp

Thực phẩm bảo vệ là thuốc tiêu diệt và phòng bệnh trên cây trồng được sử dụng rộng rãi. Thực phẩm bảo vệ được chia làm nhiều loại theo mục đích sử dụng, thuốc dạng, nguồn gốc và cấu trúc của thuốc. Và bây giờ baonongsan.com sẽ chia sẽ cho các bạn cách phân biệt các loại thực phẩm bảo vệ thường gặp nhé! Thực phẩm bảo vệ là gì? Thuốc thực phẩm bảo vệ hay thuốc...

Có thể bạn quan tâm:

Thực phẩm bảo vệ là thuốc tiêu diệt và phòng bệnh trên cây trồng được sử dụng rộng rãi. Thực phẩm bảo vệ được chia làm nhiều loại theo mục đích sử dụng, thuốc dạng, nguồn gốc và cấu trúc của thuốc. Và bây giờ baonongsan.com sẽ chia sẽ cho các bạn cách phân biệt các loại thực phẩm bảo vệ thường gặp nhé!

Thực phẩm bảo vệ là gì?

Thuốc thực phẩm bảo vệ hay thuốc BVTV, tên tiếng anh là thuốc trừ sâu, là sản phẩm được sử dụng để phòng và trừ sâu bệnh giúp thực phẩm bảo vệ. Được chia thành nhiều loại, có các đặc điểm, thành phần và các công cụ khác nhau.

Phân biệt các thực hành bảo vệ loại

Thực phẩm bảo vệ là tên chỉ chung cho các sản phẩm hóa chất được sử dụng trong lâm sàng, lâm nghiệp nhằm mục đích phòng trừ, ngăn ngừa và tiêu diệt các đối tượng gây hại cho cây trồng, cho nông lâm sản hoặc để điều hòa, kích hoạt cây trồng từ đồng trưởng cho tới người quản lý kho.

Tại Việt Nam, thuốc BVTV bắt buộc phải được đăng ký vào danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng. Trên thế giới, người ta từ bỏ việc sử dụng thuốc thực hiện bảo vệ chuyển sang canh tác của cơ sở để bảo vệ môi trường và sức khỏe con người.

Phân biệt thực thi bảo vệ loại

Hiện nay, Thuốc BVTV rất phong phú và đa dạng về mọi mặt, từng loại tái xử lý một vấn đề riêng của cây trồng. Bà con có thể dễ dàng tìm mua chúng ngay tại cửa hàng gần nhà, chỉ cần đọc tên loại sâu bệnh là có ngay loại thuốc phù hợp.

Chúng tôi chúng tôi có thể được phân loại thực phẩm bảo vệ theo các tiêu chí sau đây:

Phân biệt các loại thực phẩm bảo vệ bằng heo format

Bổ sung các trạng thái của thuốc là bao gồm: Dạng dung dịch, dạng sữa, dạng thấm nước, dạng bột, dạng hạt, dạng tan trong nước, dạng dung dịch phù hợp, thuốc phun cực nhỏ.

Phân biệt các loại thực phẩm bảo vệ t heo nguồn gốc và cấu trúc học tập

Thuốc BVTV được sản xuất chủ yếu có 2 nguồn gốc được tổng hợp hoặc có nguồn gốc sinh học.

Thuốc BVTV có nguồn gốc sinh học : Là sản phẩm có nguồn gốc từ tự nhiên, là chế phẩm sinh học có nguồn gốc là thảo dược hoặc các loại sinh học được nuôi dưỡng trong các trường hợp nuôi dưỡng khác nhau. Các sản phẩm này có tính độc thấp hơn so với thuốc hóa học.

Thuốc BVTV được tổng hợp hóa học : Là những sản phẩm có thành phần hoạt động được tổng hợp từ các chất hóa học vô cơ hoặc hữu cơ và hầu hết đều là chất độc.

Những sản phẩm có nguồn gốc từ sinh học bình thường là những phương pháp được sử dụng trong lối mòn của con người, sau này phát triển thành hoa học. Nhưng khi con người nhận thức dần dần được kết quả của các chất hóa học trao tặng, thì các sản phẩm có nguồn gốc sinh học mới được đưa vào sử dụng.

Phân biệt các loại thực phẩm bảo vệ for  mục tiêu heo mục usage

Chúng tôi đang nghiên cứu những thứ khác mà không được sử dụng là loại:

  • Thuốc trừ cỏ dại
  • Thuốc trừ sâu, trừ nhện hay côn trùng gây hại
  • Thuốc trừ nấm, vi khuẩn hay vi sinh vật gây hại
  • Thuốc kích hoạt sinh trưởng, phát triển.

Phân biệt các loại thuốc bảo vệ thực vật t heo ảnh hưởng của thuốc

  • Thuốc có tác dụng thông qua tiếp xúc
  • Thuốc có tác dụng độc
  • Thuốc có tác dụng hấp thụ
  • Thuốc có tác dụng xông hơi.

Phân biệt các loại thực phẩm bảo vệ, t heo cách nhập và nhóm độc

Đối với động vật, bảo vệ thực vật đều là những loại độc tố.

Theo cách thức nhập khẩu, bao gồm 3 loại: Thuốc độc (gây độc qua đường tiêu hóa), thuốc xông (gây độc qua đường hô hấp, thuốc tiếp xúc (gây độc qua da, qua vỏ bọc của cơ thể) ).

The Độc dược là lời nhắc tới khả năng gây độc của một loại thuốc nhất định khi tác động vào cơ thể, phân thành:

  • Quyền độc quyền tính toán: Mức độ độc quyền này có thể gây buồn chán, giấy tờ, giấy tờ hôi,… ngay khi tiếp xúc với cơ thể hoặc bị đo lường phải có một lượng nào đó.
  • Độc tính : Loại độc này tăng dần thành cơ thể, thường thì không có biểu hiện ngay, lượng độc sẽ tích lũy thêm sau mỗi lần tiếp xúc và phá hủy dần dần, khi tích tụ nhiều sẽ phát và hiện ra bên ngoài.
  • Độc độc: Tổ chức y tế thế giới (WHO) phân phối thực phẩm bảo vệ thành 5 nhóm độc căn cứ vào LD50 trị số (mg / kg).
Parse group độc lập Qua đường Qua da
Thể rắn Long Thể rắn Long
Độc rất nhẹ > 2000 > 3000
A light 500-2000 2000 – 3000 > 1000 > 4000
Độc trung bình 50 – 500 200-2000 100 – 1000 400 – 4000
Độc 5 – 50 20 – 200 10 – 1000 40-400
Độc mạnh 5 20 10 40

LD50: Là kí hiệu chỉ cấp độ độc quyền của thuốc qua da hoặc đường miệng. Những con số trong bảng là thể hiện số lượng gây chết trung bình được tính bằng đơn vị miligam (mg) hoạt động, với liều lượng đó có thể gây chết 50% số động vật được thí nghiệm (tính bằng kg), khi chất lượng quan trọng của số động số là cho uống thuốc hoặc phết vào da. Con số càng nhỏ thì chứng chỉ chất lượng càng độc.

Trên bao bì thuốc BVTV đều có dấu hiệu để quy định mức độ nguy hiểm của sản phẩm:

  • Vạch màu xanh lá cây: Độc rất nhẹ
  • Vạch màu xanh dương: Độc nhẹ
  • Vạch màu vàng: Độc trung bình
  • Vạch màu đỏ: Độc và mạnh

Với những sản phẩm có tính năng rất độc đáo có đính kèm gạch chéo ký hiệu để cảnh báo nguy hiểm cho người sử dụng, loại này có thể gây chết người.

Thực phẩm bảo vệ có tác hại gì không?

Use BVTV tuy mang lại hiệu quả nhanh chóng, tức thời, nhưng lại cho ra những kết quả quan trọng lâu dài và trên nhiều mặt.

Một phần của bản chất độc hại, phần khác do người dùng không nhận thức được sự độc hại của nó, nên bắt đầu sử dụng, sử dụng thuốc bảo vệ một cách vô tội, không kiểm tra và sử dụng sai.

Thuốc thực hiện bảo vệ gây mất cân bằng hệ thống sinh học

Tự nhiên, cả loài gây hại, các loài có lợi hay các loài thiên nhiên đều góp phần cân bằng hệ thống sinh thái. Nhưng khi người dùng BVTV thuốc thì tác động không nhỏ đến khả năng sinh tồn của họ, làm mất cân bằng và mất ổn định trong tự nhiên.

Thuốc bảo vệ thực vật có tác dụng tiêu diệt các loài gây hại, nhưng mọi người đều biết rằng công việc đó đã dần dần giết chết rất nhiều loài cũng có lợi.

Các loài thiên địch như ong kí sinh hay côn trùng bắt mồi, thường rất nhạy cảm với thuốc hơn cả những loài gây hại. Mỗi lần sử dụng thuốc, làm giảm số lượng côn trùng và gây hại, làm cho các loài thiên địch bị thiếu thức ăn và chết dần, khác số thì bị ngộ độc từ con mồi.

Theo Pimetel (1971) để chống lại 1000 loại sâu hại, người ta sử dụng thuốc BVTV, nhưng tác động lại tới hơn 200.000 loài sinh vật không gây hại, trong khi chúng ta cũng rất quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của con người.

Thực hiện thuốc bảo vệ đối với bệnh hại

Sau nhiều lần sử dụng thuốc, tác hại của cấu trúc yếu tố có thể bị suy yếu, không thể gây hại. Tuy nhiên, có nhiều loại cảm ứng được sử dụng thuốc, lại tiếp tục phát triển mạnh hơn và trở thành dịch hại nguy hiểm, gây thất bại nặng nề.

Ngoài ra, còn phát sinh thêm nhiều tạp chí hại mới, phát triển mạnh hơn trong thời gian ngắn và khó xử lý hơn các thể loại trước đó. Lúc này người ta lại tiếp tục nghiên cứu sản xuất ra những sản phẩm phải độc hại hơn mới có thể tiêu diệt được chúng. Cứ như vậy, một tuần hoàn toàn không dừng lại và càng gây ra nhiều hậu quả nặng nề.

Mỗi lần dịch bệnh phát triển mạnh, sinh sôi nhanh hơn. The next to use the drug but must be gain of / speed, tăng tần suất sử dụng, tăng các chu kỳ sử dụng thuốc và cứ lặp lại như vậy. Vô tình huấn luyện các ứng dụng gây hại cho đối tượng, chống lại thuốc, chúng tôi cứ thích nghi dần và ngày càng phát triển mạnh hơn.

Theo thống kê về lịch sử sử dụng thực phẩm bảo vệ cho thấy, mới bị hại không phải là từ các điểm khác nhau chuyển tới, mà là yếu tố bị hại có ngay tại địa phương đó, chúng chỉ là tác động của chúng and phát triển dần dần mà thành dịch hại.

Sự hành động của những người mới dịch thuật có sự khác biệt về cảm xúc và khả năng kháng giữa các loài.

Trong khi các loài gây hại có khả năng phát triển và sinh sản nhanh hơn thiên địch, những người dân càng sử dụng nhiều thuốc thì các sinh vật càng bị đe dọa, gây ô nhiễm môi trường.

Thuốc gây ô môi trường

Thuốc bảo vệ thực vật dễ bay hơi, nhất là vào những ngày nắng nóng. Tuy nhiên, rất ít trường hợp bị ngộ độc cân bằng lượng thuốc BVTV từ không khí. Chủ yếu chúng tác động từ môi trường đất và môi trường nước.

Phân biệt các thực hành bảo vệ loại

Sau khi sử dụng BVTV thuốc, một phần sẽ được bay hơi, một phần được quang hóa, các phần khác sẽ được hấp thụ và phân tích, chuyển đổi, nhưng dù có xử lý bằng cách nào thì nó vẫn đi vào đất.

Các loại thuốc sẽ tồn tại ở các lớp đất khác nhau vào các điểm khác nhau, khi đó các sinh vật có lợi trong đất sẽ giúp phân tích một phần và các mảnh đất hấp thụ một phần (mùn và sét).

Tuy nhiên, nhiều loại thuốc có độc tính cao có thể giết nhiều sinh vật có lợi trong đất, lại có thời gian phân hủy đất dài không có đủ thời gian để phân hủy hết, mà cứ sử dụng lâu dài và liên tục, thực hiện các chất sẽ tích lũy dần dần trong đất.

Những phần thuốc không thấm vào đất thì cạn kiệt trên đồng ruộng, kênh hay thông qua đất mà thành mạch nước ngầm, không có trong bao bì hay thuốc mà người dân bỏ đồng, cả khi xục rửa công cụ chứa thuốc và đổ vỡ gần đó các nguồn nước.

Tất cả mọi hành động và viện trợ đều là nguyên nhân đến môi trường đất và nước, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống, sức khỏe con người cũng như các loài sinh vật.

Thuốc bảo vệ thực vật gây thiệt hại kinh tế

Chi phí ban đầu cho bảo vệ thực phẩm có khi cao hơn so với không sử dụng thuốc. Nhiều trường hợp sử dụng BVTV thuốc nhưng không tạo ra hiệu quả cao, dẫn đến chi phí đầu tiên vào cao trong khi sản phẩm, có chứa cân bằng chào đón bởi trường và thế là không có hiệu quả kinh tế.

Hiện ra nhiều người mới bị hại cho người dân phải phụ thuộc vào thuốc BVTV, đe dọa một cách nghiêm trọng đối với cả hệ thống sinh thái và sức khỏe con người.

Mỗi năm, Việt Nam nhập khẩu bình quân hơn 70.000 tấn thành phẩm có giá trị từ 210 – 774 triệu USD (tình từ năm 2006 đến năm 2010).

Tổng chi phí để khắc phục ô đất, không khí, nguồn nước, doanh thu từ xuất khẩu thành phẩm và các thành phần thất bại khi các sản phẩm không được xuất khẩu do có chứa dư lượng của các chất gây hại không thể bù đắp.

Tính đến năm 2010, thì chi phí hằng năm để chữa bệnh và tổng giá trị của sản phẩm liên quan đến thuốc BVTV không được xuất khẩu ra nước ngoài ước tính khoảng 700 triệu $, con số quá lớn, đó là chưa tính chi phí môi trường bị ảnh hưởng.

Thuốc bảo vệ thực vật gây ảnh hưởng tới sức khỏe người dùng

Đối với người trực tiếp canh tác dụng BVTV thuốc

Trong lúc sử dụng, chủ quản nên người dân không trang bị đầy đủ đồ bảo hộ, không vệ sinh sạch sẽ sau khi phun thuốc sẽ bị ảnh hưởng trực tiếp từ thuốc.

If is the type of the single feature that can be not nguyen lieu ngay, but them se tích lũy dần dần và đến lúc nào đó, sẽ biểu hiện ra bên ngoài bằng các bệnh, khi đó đã quá sớm vì hậu quả đã được kiểm duyệt.

Với những loại thuốc có độc tính mạnh, chắc chắn sẽ rất nguy hiểm đối với mạng tính toán, có nhiều trường hợp bị ngộ độc sau khi phun thuốc, còn lại như tìm đến thực phẩm bảo vệ để tự động, hoặc những thứ này trẻ nhỏ không biết gì vô tình ăn, uống nhầm thuốc dẫn tới độc rồi tử vong.

Lại có nhiều loại thuốc BVTV còn gây ảnh hưởng cho tất cả các hệ thống sau này, người dùng thì không thấy có biểu hiện, nhưng họ có thể làm biến đổi di truyền ở nhiều đời như dị tật hay mắc phải bệnh tật nghèo khó. sinh.

VD: Trong quá khứ, Mỹ đã từng thả chất độc Dioxin xuống nước và để lại kết quả nặng nề mà đến tận cùng ngày vẫn chưa khắc phục được.

Thông thường sau mỗi lần sử dụng thuốc, thực phẩm phải được cách ly trong thời gian tối thiểu cho phép, nếu không cây sẽ không kịp chuyển hóa những chất hóa học đó, nếu người dùng ăn phải sẽ rất nguy hại.

Cây trồng sẽ hấp thụ chất dinh dưỡng và chất hóa học, tích lũy lại, khi chúng ta nấu ăn và ăn luôn cả những chất độc hại đó. Kết quả cả những chất lượng đạt được phép thử, thì vẫn có hại cho sức khỏe người dùng.

Một số chất sẽ bốc hơi hoặc tự hủy bỏ khi được nấu chín, nhưng vẫn có những chất còn lại và thế là chúng ta tải trực tiếp vào cơ thể những chất độc hại

Theestate dược bảo vệ kiểu pha trộn

Nguyên tắc 1

Nếu kết hợp giữa nước dạng thuốc, thì trước đó là dạng SC chế tạo (phù phép), rồi mới đến dạng OD (dầu sinh học), tiếp theo là EC, ND, SL…

Nguyên tắc 2

Đổ nhiều nước vào bình phun trước khi pha thuốc, hòa tan từng loại với ít nước bên ngoài, rồi mới đổ từng loại vào bình phun. Áp dụng với những loại thuốc có thể phối hợp với nhau.

Nguyên tắc 3

If vừa kết hợp thuốc dạng bột (WG), hạt dạng (HHN), nước dạng và phân tán lá. Thì ra bột dạng hòa tan hoặc hạt dạng trước, sau đó đến nước dạng thuốc và cuối cùng là lá cải.

Nguyên tắc 4

Không thể kết hợp thuốc có gốc carbamate kim loại với thuốc gốc cảm kháng. Các Carbamate kim loại hình: Hoạt chất Mancozeb (DITHANE M45), Propineb (ANTRACOL), Zineb (Zineb xanh), Fosetyl-Aluminium (Aliette), Ziram (Ziflo),… không nên kết hợp với chất kháng sinh như hoạt chất Streptomycin, Validamycin, Kasumin, Kasuran, Avalon, Lobo,…

Nguyên tắc 5

Có thể kết hợp các loại gốc thuốc như CUPROXAT, NORSHIELD, CHAMPP, CHAMPION, KOCIDE với các chất khác hoạt động, ngoại trừ hoạt chất Chlorpyrifos, Fosetyl-Aluminium, kháng sinh, phân tán lá. Nhưng Coc85, CuSO4, Bordo (Booc Đô) chỉ nên phun riêng.

Nguyên tắc 6

Chỉ nên pha chung các loại thuốc trừ sâu hoặc trừ bệnh có khác nhau các phòng trị liệu, các tác động khác nhau. Không nên pha chung các loại thuốc có cùng một cơ chế hoạt động hoặc cùng một phòng trị liệu đối tượng.

Ví dụ:

  • Thuốc trừ sâu: Thuốc trừ nhện với thuốc trừ sâu (miệng nhai), rệp hút (hút mũi); thuốc tiếp xúc, vị độc, xông hơi, làm cơ, chống lộ, làm ung thư phân phối với thuốc gây độc thần kinh.
  • Thuốc phòng trừ bệnh: Thuốc phòng bệnh (hoạt chất Propineb, Carbendazim, Zineb, Mancozeb, Thiophanate (TOPSIN-M, TOPLAZ),…) phối thuốc có đặc tính chữa bệnh (NATIVO, TILT SUPER, RAMPART, SCORE, ANVIL , SUMI-EIGHT, ENCOLECTON, AMISTAR,….)

Nguyên tắc 7

Thuốc trừ sâu có thể pha chung với thuốc trừ bệnh, chất điều hòa sinh trưởng hoặc phân bổ lá NPK-trung vi lượng, riêng phần bổ sung lá, nên sử dụng loại có hàm lượng chất thấp hoặc pha ở mức độ thấp.

Thuốc phòng bệnh (nội hấp, tiếp xúc) có thể pha với phân bổ lá NPK- trung vi lượng, thuốc điều hòa sinh trưởng (KELPAK, ATONIK, GA3, CYTOKYNIN, AUXIN, ETHREL, PACLOBUTRAZOL), but pa-tê-re-used at Lower or have low quality of function when the tree not have a certificate of expression (phun room).

Thuốc chữa bệnh (lưu dẫn) và khi cây có biểu hiện bệnh (phun trị liệu) thì không nên kết hợp với lá phân tích.

Nguyên tắc 8

Một số loại thuốc nên phun ra vì rất khó kết hợp như: ALIETTE (Fosetyl-Aluminium), ZIFLO (h / c Ziram), Nano bạc, Bordo, Coc85 và các hợp chất có lưu huỳnh (S) is the parse of special features như thuốc phòng vi khuẩn ZnSO4, CuSO4, FeSO4.

Nguyên tắc 9

Các dược phẩm này được cùng một công ty trực tiếp sản xuất thường dễ dàng phân phối với nhau. Các tác giả, chất lượng kém, chất lượng nếu phân phối với sản phẩm của công ty thương hiệu dễ dẫn đến hỏng thuốc.

Nguyên tắc 10

Kernel format (ký hiệu của sản phẩm sau thương mại tên là H, G, GR) thì không nên hòa nước phun.

Phối hợp nhiều món hay không tuân thủ 10 nguyên tắc trên có thể dẫn tới hư hỏng thuốc (đổi màu, kết thúc, thu-tỏa nhiệt, đóng cửa, sủi bọt) hoặc kém hiệu quả phòng trừ sâu bệnh.

Ngoài ra, còn nguyên tắc phụ không để bên trên như: Ca, K, Cu có chủ sở hữu liên kết như Ca chủ cơ, k-humate, Cu-humate có thể phối hợp với thuốc trừ sâu, trừ bệnh dễ hơn dạng ion Ca, ion K, ion Cu (hóa học).

Với thuốc cỏ chỉ nên phun đơn, chỉ phối hợp với lá dạng hữu cơ, acid amin, chất điều hòa sinh trưởng, vitamin khi sử dụng dạng thuốc cỏ dành cho cây trồng như lúa, đậu, ngô, hành, cà rốt.

Trên đây là cách phân biệt các loại thuốc bảo vệ thực vật mà baonongsan.com muốn chia sẽ đến các bạn. Hi vọng qua bài viết này các bạn sẽ có thêm nhiều thông tin hữu ích nhé! Chúc các bạn thành công.

Baonongsan.com: tổng hợp thông tin giá nông sản, nuôi trồng các loại rau, nông thuỷ hải sản mang giá trị kinh tế cao cho bà con nông dân khắp các miền tổ quốc.

Keyword:

Ngày 02/10 năm 2020 | Viet-gap | Tag: